Một doanh nghiệp có thể còn tiền hàng chưa trả nhà cung cấp, lương cuối tháng chưa thanh toán, nghĩa vụ thuế đang chờ nộp và chi phí dịch vụ đã phát sinh. Các khoản này không giống nhau, nhưng đều cần được xác định đúng đối tượng, căn cứ, số tiền và thời hạn. Trong bài viết này, các khoản phải trả được dùng cho những nghĩa vụ thanh toán cần theo dõi; khái niệm đó không đồng nhất với toàn bộ nợ phải trả trên báo cáo tài chính.
Căn cứ áp dụng hiện hành
Thông tư 99/2025/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 và áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau ngày này. Doanh nghiệp có năm tài chính khác năm dương lịch cần xác định thời điểm áp dụng theo ngày bắt đầu năm tài chính của mình [1].

Các khoản phải trả là gì?
Các khoản phải trả là những nghĩa vụ thanh toán doanh nghiệp cần theo dõi đối với một bên cụ thể. Chúng có thể phát sinh khi doanh nghiệp đã nhận hàng hóa, dịch vụ, tài sản, công việc hoặc hình thành nghĩa vụ khác nhưng chưa hoàn tất thanh toán. Bên nhận tiền có thể là nhà cung cấp, người lao động, cơ quan Nhà nước, đơn vị nội bộ hoặc đối tượng khác tùy giao dịch.
Các khoản phải trả là cách tổ chức nội dung theo nhu cầu quản lý, không phải tên một tài khoản duy nhất. Mỗi nghĩa vụ vẫn phải được phân loại theo bản chất, theo dõi ở tài khoản phù hợp và có hồ sơ giải thích số tiền ghi nhận.
Muốn kiểm tra một khoản phải trả, trước hết cần trả lời bốn câu hỏi:
- Doanh nghiệp phải thanh toán cho ai và bên đó có được xác định rõ không?
- Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, giao dịch hoặc sự kiện nào?
- Số tiền đã được xác định hoặc có cơ sở xác định đáng tin cậy chưa?
- Khoản này đến hạn khi nào và hiện đã thanh toán được bao nhiêu?
Ví dụ, doanh nghiệp đã nhận linh kiện theo biên bản giao nhận, hợp đồng cho phép trả sau 30 ngày và giá trị đã được xác định. Nghĩa vụ với nhà cung cấp đã hình thành dù tiền chưa chuyển; còn kế hoạch mua hàng cho quý sau chưa tạo ra khoản phải trả.
Khoản phải trả phải gắn với giao dịch thực tế và hồ sơ phù hợp. Tiền chưa rời tài khoản không có nghĩa nghĩa vụ chưa tồn tại; nhưng một tờ hóa đơn cũng không thay thế việc kiểm tra giao nhận, điều khoản hợp đồng và bản chất giao dịch.
Các khoản phải trả khác nợ phải trả và phải trả người bán thế nào?
Trong phạm vi bài viết, ba cụm từ này có quan hệ gần nhau nhưng không đồng nhất. Nợ phải trả là khái niệm bao quát nhất trên báo cáo tài chính; “các khoản phải trả” là nhóm nghĩa vụ thanh toán được theo dõi theo đối tượng, giao dịch và thời hạn; còn phải trả người bán là một nhóm cụ thể phát sinh với bên bán, nhà cung cấp hoặc nhà thầu.
| Tiêu chí | Nợ phải trả | Các khoản phải trả | Phải trả người bán |
| Phạm vi sử dụng trong bài | Rộng nhất; gồm nhiều nghĩa vụ. | Nhóm nghĩa vụ thanh toán được theo dõi theo đối tượng và thời hạn. | Một nhóm cụ thể với bên bán, cung cấp hoặc nhà thầu. |
| Trọng tâm | Bản chất, kỳ hạn và trình bày báo cáo. | Đối tượng, số còn phải trả và ngày đến hạn. | Giá trị đã nhận nhưng chưa thanh toán; tài khoản chi tiết có thể đồng thời theo dõi khoản ứng trước. |
| Ví dụ | Vay, thuê tài chính, khoản phải trả, dự phòng. | Người bán, lao động, Nhà nước, nội bộ, khoản khác. | Tiền hàng, dịch vụ, tài sản hoặc công việc chưa trả. |
| Cách đọc | Theo khoản mục và thuyết minh. | Theo đối tượng, giao dịch, tuổi nợ. | Theo chi tiết từng bên bán; không bù trừ tùy tiện. |
Khoản vay thuộc nợ phải trả nhưng không phải trọng tâm của bài. Phải trả người bán là khoản phải trả điển hình, song không bao gồm tiền lương, thuế, chi phí phải trả hoặc nghĩa vụ nội bộ.
Các khoản doanh nghiệp có quyền thu thuộc chủ đề các khoản phải thu. Khi quản lý dòng tiền, cần nhìn cả hai chiều nhưng không bù trừ chỉ vì cùng liên quan một đối tác.

Các khoản phải trả thường bao gồm những gì?
Hệ thống tài khoản tách nghĩa vụ theo bản chất thay vì gom vào một tài khoản chung. Sáu nhóm dưới đây giúp nhận diện nhanh; danh sách không thay thế việc kiểm tra hồ sơ và không có nghĩa mọi doanh nghiệp đều phát sinh đủ các nhóm.
Phải trả người bán
Nhóm này phát sinh khi doanh nghiệp mua vật tư, hàng hóa, dịch vụ, tài sản hoặc nhận khối lượng công việc nhưng chưa thanh toán. TK 331 còn theo dõi tình hình thanh toán với nhà cung cấp, bên bán tài sản và nhà thầu theo Phụ lục II Thông tư 99/2025/TT-BTC [2].
Doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết từng đối tượng. Số tổng hợp chỉ có ý nghĩa khi truy ngược được đến giao dịch, khoản ứng trước, giảm trừ, thanh toán từng phần và số còn phải trả.
Ngày đến hạn cần được theo dõi theo từng giao dịch vì cùng một nhà cung cấp có thể áp dụng nhiều kỳ hạn. Các khoản giảm giá, chiết khấu và hàng trả lại cũng phải cập nhật đúng giao dịch để số còn phải trả không bị sai.
Phải trả người lao động
Nhóm này gồm tiền lương, tiền công, thưởng và quyền lợi khác đã phát sinh mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán. Hồ sơ lao động, bảng lương, chấm công và phê duyệt liên quan phải thống nhất với số đang theo dõi.
Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
Doanh nghiệp có thể phát sinh nhiều loại thuế và khoản phải nộp. Tuy nhiên, chế độ kế toán chỉ hướng dẫn chứng từ, tài khoản, ghi sổ và báo cáo; số thuế phải nộp vẫn xác định theo pháp luật thuế [3]. Khi rà soát, cần đối chiếu sổ với tờ khai, thông báo và chứng từ nộp.
Chi phí phải trả
Chi phí phải trả phản ánh các khoản chi phí của kỳ báo cáo đã phát sinh và sẽ phải thanh toán nhưng tại thời điểm ghi nhận chưa có đủ hồ sơ, tài liệu, nếu giá trị có cơ sở xác định đáng tin cậy [2]. Ví dụ có thể là tiền lương nghỉ phép hoặc lãi vay đã phát sinh theo thời gian, tùy hồ sơ thực tế.
Khác biệt nằm ở trọng tâm ghi nhận: chi phí phải trả nhằm phản ánh đúng chi phí của kỳ khi nghĩa vụ đã phát sinh nhưng hồ sơ chưa đầy đủ, còn phải trả người bán gắn với quan hệ thanh toán cho bên bán hoặc nhà cung cấp. Vì vậy, hai khái niệm không nên được dùng thay thế cho nhau.
Phải trả nội bộ
Phải trả nội bộ phát sinh giữa doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc hoặc giữa các đơn vị trong cùng hệ thống. Khoản này cần được theo dõi theo từng đơn vị, nội dung và cơ chế phân cấp để không nhầm với công nợ bên ngoài.
Phải trả, phải nộp khác
Nhóm phải trả, phải nộp khác chỉ dùng khi bản chất giao dịch phù hợp và không thuộc tài khoản chuyên biệt. Đây không phải nơi đưa mọi khoản chưa rõ cách xử lý; doanh nghiệp phải xác định đối tượng, nội dung và căn cứ trước khi phân loại [2].
Khi nào một khoản phải trả phát sinh?
Khoản phải trả không được xác định chỉ bằng ngày chuyển tiền hoặc ngày nhận hóa đơn. Cần xem doanh nghiệp đã nhận hàng hóa, dịch vụ, tài sản hay công việc chưa; nghĩa vụ theo hợp đồng đã hình thành đến đâu; và giá trị có cơ sở xác định hay không.
Ba tình huống dưới đây cho thấy vì sao một mốc thời gian đơn lẻ có thể gây nhầm:
| Tình huống | Thông tin cần kiểm | Cách hiểu thận trọng |
| Đã nhận hàng/dịch vụ, chưa trả | Có giao nhận, nghiệm thu; giá trị xác định được. | Có thể đã hình thành nghĩa vụ; xử lý theo hồ sơ thực tế. |
| Đã ứng trước, chưa nhận giá trị | Mới chuyển tiền cho nhà cung cấp. | Không cộng như số còn phải trả; theo dõi khoản ứng trước [2]. |
| Có hóa đơn, giao dịch chưa hoàn tất | Chưa giao nhận hoặc chưa chuyển giao theo thỏa thuận. | Không kết luận chỉ từ hóa đơn; kiểm hợp đồng và bản chất. |
Hóa đơn là chứng từ quan trọng nhưng không phải điều kiện duy nhất. Hàng hóa, dịch vụ đã được tiếp nhận có thể tạo nghĩa vụ trước khi thủ tục hóa đơn hoàn tất; ngược lại, hóa đơn theo tiến độ chưa chắc chứng minh doanh nghiệp đã nhận đủ giá trị tương ứng.
Cần phân biệt tiền trả trước cho người bán với tiền nhận trước của khách hàng. Khoản nhận trước liên quan nghĩa vụ giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ ở chiều doanh thu. Bộ Tài chính lưu ý tiền người mua trả trước khi chưa cung cấp hàng hóa, dịch vụ không được đưa máy móc vào TK 3387 [5].

Phải trả người bán được theo dõi như thế nào?
Phải trả người bán thường có nhiều giao dịch và dễ sai lệch nếu chỉ theo dõi số tổng. Phụ lục II Thông tư 99 yêu cầu theo dõi chi tiết từng đối tượng, bao gồm cả khoản ứng trước khi chưa nhận hàng hóa, dịch vụ hoặc khối lượng hoàn thành [2].
Một bảng theo dõi hữu ích nên có tối thiểu tám trường:
| Trường theo dõi | Nội dung cần có |
| 1. Đối tượng | Tên/mã bên nhận thanh toán; tránh trùng đối tượng. |
| 2. Giao dịch | Hợp đồng, đơn hàng hoặc nội dung liên quan. |
| 3. Căn cứ | Giao nhận, nghiệm thu, hóa đơn và hồ sơ hỗ trợ. |
| 4. Giá trị | Số nghĩa vụ được xác định theo hồ sơ. |
| 5. Đã trả | Số và chứng từ thanh toán. |
| 6. Còn lại/trả trước | Tách số còn phải trả với ứng trước, trả thừa. |
| 7. Đến hạn | Ngày theo hợp đồng hoặc thỏa thuận cập nhật. |
| 8. Trạng thái | Đã đối chiếu, thiếu hồ sơ, tranh chấp, quá hạn. |
Số dư Có chi tiết thường phản ánh số còn phải trả; số dư Nợ chi tiết có thể phản ánh khoản đã ứng trước hoặc trả nhiều hơn số phải trả. Không lấy số dư tổng để bù trừ giữa các nhà cung cấp hoặc cộng khoản ứng trước vào số còn phải trả [2].
Ví dụ, doanh nghiệp còn phải trả A 300 triệu đồng nhưng đã ứng trước B 100 triệu đồng. A vẫn cần được thanh toán 300 triệu đồng; khoản tại B là quyền nhận hàng, dịch vụ hoặc được hoàn lại theo thỏa thuận, không phải khoản phải trả ròng.
Lịch thanh toán cần liên kết với kế hoạch tiền nhưng không làm thay đổi số kế toán. Khi gia hạn, doanh nghiệp phải lưu thỏa thuận mới và theo dõi riêng khoản có nguy cơ phạt hoặc ngừng cung ứng.
Đối chiếu giúp phát hiện hóa đơn trùng, thanh toán chưa cập nhật, hàng trả lại chưa giảm trừ, ứng trước treo lâu hoặc giao dịch tranh chấp. Chênh lệch phải được tìm nguyên nhân theo hồ sơ, không điều chỉnh chỉ để số hai bên bằng nhau.
Với doanh nghiệp có nhiều giao dịch, tám trường thông tin trên cần được kết nối với quy trình công nợ phải thu, phải trả, phê duyệt mua hàng, kiểm soát hóa đơn và phân quyền thanh toán để hạn chế bỏ sót hoặc thanh toán sai.

Ví dụ về một doanh nghiệp có nhiều khoản phải trả trong cùng kỳ
Giả sử một doanh nghiệp sản xuất đang khóa sổ cuối tháng. Toàn bộ số liệu sau là giả định, chỉ dùng minh họa cách phân loại.
| Tình huống | Giá trị giả định | Nhóm nhận diện | Điểm cần lưu ý |
| Nguyên vật liệu đã nhận, chưa trả | 300 triệu | Phải trả người bán | Thanh toán theo hợp đồng. |
| Lương tháng chưa trả | 120 triệu | Phải trả người lao động | Khớp bảng lương và chấm công. |
| Tiền thuê kho đã phát sinh | 45 triệu | Chi phí phải trả hoặc phải trả người bán | Phụ thuộc hồ sơ, thời điểm và căn cứ ghi nhận. |
| Thuế chờ nộp | 80 triệu | Thuế và khoản phải nộp | Đối chiếu hồ sơ thuế. |
| Phải trả đơn vị trực thuộc | 60 triệu | Phải trả nội bộ | Theo dõi theo đơn vị. |
| Ứng trước nhà cung cấp khác | 100 triệu | Khoản trả trước | Không phải số còn phải trả. |
Không thể cộng cả sáu con số để xác định tổng số còn phải thanh toán. Khoản 100 triệu đồng ứng trước là quyền nhận hàng, dịch vụ hoặc được hoàn lại theo bản chất chi tiết, không phải số còn phải trả cho nhà cung cấp đó.
Mức độ ưu tiên không chỉ phụ thuộc giá trị. Khoản nhỏ đã quá hạn và có nguy cơ dừng dịch vụ có thể cần xử lý trước khoản lớn còn thời hạn; vì vậy bảng quản lý phải có ngày đến hạn và trạng thái.
Cách kiểm tra các khoản đến hạn và quá hạn
Nên rà soát định kỳ để biết khoản nào sắp đến hạn, hồ sơ nào chưa hoàn chỉnh và nghĩa vụ nào đang tranh chấp, thay vì chỉ xem tổng số phải chi.
Bước 1: Lập danh sách theo ngày đến hạn
Sắp xếp theo ngày đến hạn, đồng thời giữ thông tin đối tác và điều khoản thanh toán để ước tính nhu cầu tiền trong 7, 15 hoặc 30 ngày tới.
Bước 2: Đối chiếu số dư với hồ sơ
Đối chiếu hợp đồng, giao nhận, nghiệm thu, hóa đơn, thanh toán và sao kê. Nếu số liệu chênh, truy từng giao dịch để tìm khoản chưa ghi, ghi trùng hoặc giảm trừ chưa cập nhật.
Bước 3: Tách nhóm cần xử lý
- Sắp đến hạn: đã đủ hồ sơ và cần đưa vào kế hoạch dòng tiền.
- Quá hạn: xác định nguyên nhân, chi phí phạt và rủi ro gián đoạn cung ứng.
- Thiếu hồ sơ: chưa đủ căn cứ phê duyệt hoặc ghi nhận chính xác.
- Chưa đối chiếu: số liệu nội bộ chưa được xác nhận hoặc còn chênh lệch.
- Đang tranh chấp: cần theo dõi riêng, kèm người phụ trách và phương án xử lý.
- Trả trước hoặc trả thừa: không xếp chung với số còn phải thanh toán.
Bước 4: Gắn người phụ trách và hành động
Mỗi khoản bất thường cần có người xử lý, hạn hoàn thành và hành động tiếp theo. Danh sách không có trách nhiệm và deadline thường chỉ chuyển sai lệch sang kỳ sau.
Doanh nghiệp có thể chia tuổi nợ theo các khoảng chưa đến hạn, quá hạn dưới 30 ngày, 31–60 ngày, 61–90 ngày và trên 90 ngày, tùy chu kỳ kinh doanh. Báo cáo nên kèm giá trị, đối tác, lý do chậm và hành động dự kiến.
Các khoản phải trả được trình bày thế nào trên báo cáo tài chính?
Báo cáo tài chính không có một dòng duy nhất đại diện cho toàn bộ “các khoản phải trả” theo nghĩa vận hành. Tùy bản chất và thời hạn, nghĩa vụ được trình bày tại các chỉ tiêu riêng như phải trả người bán, người lao động, thuế, chi phí phải trả, nội bộ hoặc khoản khác.
Thông tư 99 yêu cầu áp dụng hệ thống báo cáo tại Phụ lục IV. Doanh nghiệp được bổ sung chỉ tiêu khi phù hợp, nhưng phải đáp ứng điều kiện, thuyết minh phần bổ sung và có quy chế hạch toán làm cơ sở [4].
Với phải trả người bán, số liệu phải được lấy từ số dư chi tiết từng đối tượng. Số dư Có phản ánh số còn phải trả; số dư Nợ do ứng trước hoặc trả nhiều hơn không được bù trừ vào chỉ tiêu phải trả mà phải trình bày ở phần tài sản phù hợp [2], [4].
Khi đọc báo cáo, cần xem từng chỉ tiêu, thuyết minh và số chi tiết nội bộ. Báo cáo cho biết bức tranh tại ngày lập; danh sách tuổi nợ mới cho biết khoản nào quá hạn hoặc cần thanh toán trước.
Báo cáo tài chính cho bức tranh tổng hợp tại một thời điểm; sổ chi tiết và báo cáo quản trị cho biết khoản nào đến hạn, đã ứng trước hoặc đang tranh chấp. Hai lớp thông tin phải đối chiếu được nhưng không thay thế nhau.

Rà soát các khoản phải trả
- Đã xác định đúng bên nhận thanh toán và tránh tạo trùng mã đối tượng chưa?
- Khoản phải trả có hợp đồng, giao nhận, nghiệm thu hoặc căn cứ phát sinh phù hợp không?
- Số ghi nhận có khớp giá trị hợp đồng, giảm giá, chiết khấu và chứng từ liên quan không?
- Đã tách số còn phải trả với số ứng trước, trả thừa hoặc khoản đang chờ bù trừ chưa?
- Ngày đến hạn và điều khoản phạt chậm thanh toán đã được cập nhật chưa?
- Có khoản quá hạn, thiếu hồ sơ, chưa đối chiếu hoặc đang tranh chấp không?
- Khoản thuế đã được đối chiếu với hồ sơ kê khai và chứng từ nộp chưa?
- Có khoản nào đang bị phân loại sai giữa phải trả người bán, chi phí phải trả, nội bộ hoặc phải trả khác không?
Checklist giúp phát hiện vấn đề nhưng không thay thế phê duyệt thanh toán hoặc ý kiến chuyên môn. Giao dịch phức tạp, có ngoại tệ, tranh chấp hoặc ảnh hưởng thuế cần được đối chiếu hồ sơ và quy định hiện hành.
Các khoản phải trả không nên được quản lý bằng một con số tổng. Mỗi khoản cần gắn với đúng đối tượng, giao dịch, căn cứ, số đã trả, số còn lại và ngày đến hạn. Phải trả người bán là nhóm quan trọng nhưng không đại diện cho tiền lương, thuế, chi phí phải trả, nội bộ hoặc toàn bộ nợ phải trả.
Doanh nghiệp phải tách khoản ứng trước với số còn phải thanh toán và rà soát thường xuyên các khoản quá hạn, thiếu hồ sơ hoặc chưa đối chiếu. Hồ sơ phức tạp cần được xử lý theo quy định hiện hành.
Nguồn tham khảo
[1] Bộ Tài chính: Giải đáp về thời điểm áp dụng Thông tư 99/2025/TT-BTC. Xác nhận áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau ngày 01/01/2026.
[2] Bộ Tài chính: Thông tư 99/2025/TT-BTC, Phụ lục II: Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp (tra cứu theo số văn bản 99/2025/TT-BTC). Căn cứ về TK 331, 333, 334, 335, 336, 338 và nguyên tắc theo dõi chi tiết.
[3] Bộ Tài chính: Giải đáp về phạm vi chế độ kế toán và nghĩa vụ thuế. Phân định ghi sổ, báo cáo tài chính với việc xác định nghĩa vụ thuế.
[4] Bộ Tài chính: Giải đáp về hệ thống Báo cáo tài chính tại Phụ lục IV. Căn cứ về biểu mẫu báo cáo và điều kiện bổ sung chỉ tiêu.
[5] Bộ Tài chính: Giải đáp về Tài khoản 3387 và tiền người mua trả trước. Làm rõ tiền nhận trước chưa cung cấp hàng hóa, dịch vụ không được đưa máy móc vào TK 3387.